Trần Bá Lộc

Trần Bá Lộc (1839 - 1899), là người được xem như "một tay sai đắc lực của thực dân Pháp"[1] trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân miền Nam Việt Nam những năm cuối thế kỷ 19. Nhưng ông cũng là người được nhắc đến với "công trình giao thông thủy và thủy lợi quan trọng đầu tiên ở Đồng Tháp Mười"[2]

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

Trần Bá Lộc quê quán ở Cù lao Giêng, An Giang. Cha ông là tú tài Trần Bá Phước, sinh sống ở Quảng Bình, do những bất hòa trong gia tộc nên vào năm 1829 ông đã vào Nam mở trường dạy học tại cù lao Giêng. Mẹ Bá Lộc là Nguyễn Thị Ở, con gái của phó quản cơ Nguyễn Văn Thắng.

Năm 1859, khi Pháp tấn công Sài Gòn, Trần Bá Lộc còn đang chèo ghe từ nơi ở đến Mỹ Tho bán cá cho quân đội Pháp. Sau nhờ quen biết giáo sĩ Marc, ông được vào đội lính tập của Pháp, rồi được làm cai tại Mỹ Tho (1861), đội nhì (1862). Trần Bá Lộc từng làm việc dưới quyền tham biện Paul-Louis-Félix Philastre, người mà sau này là đồng tác giả hòa ước Giáp Tuất (1874). Nhờ Bá Lộc dạy chữ Hán nên Philastre đã viết được vài tác phẩm về Nam Kỳ thưở ấy.

Ông lên chức đội nhất năm 1864 và đến ngày 19 tháng 7 năm 1865 ông được cử làm tri huyện Kiến Phong (Cái Bè, Tiền Giang).

Nhờ đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ, Trần Bá Lộc được thăng tri phủ (năm 1867), đốc phủ sứ (năm 1868), Thuận Khánh tổng đốc hàm (hàm Tổng đốc Bình ThuậnKhánh Hòa).

Khi những cuộc khởi nghĩa ở Nam KỳTrung Kỳ đã bị phá vỡ, ông về lại Cái Bè, chức danh trên bị thay là Tổng Đốc danh dự (honoraie) Cái Bè.

Gần cuối đời, đó là vào những năm 1896 - 1897, Lộc cho phóng mấy con lộ ở Cái Bè, cho đào hệ thống kênh dài, tổng cộng 103 km; trong đó có con kênh dài 47 km, rộng 10 m, làm thành ranh giới giữa Vĩnh LongSa Đéc. Tháng 4 năm 1897, đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer xuống khánh thành và từ đó nó được gọi là kênh “Tổng đốc Lộc”. Và Bá Lộc trở thành người điền chủ lớn nhất của tỉnh Mỹ Tho, khi mua lại cù lao Năm Thôn và đất ở cù lao Rồng.

Đối với những người bản xứ cộng tác với Pháp, viên Toàn quyền Paul Doumer ưu ái Bá Lộc hơn hết. Nên tháng 8 năm 1898, Paul Doumer cử Lộc vào Hội đồng tối cao Đông Dương, năm sau lại cho Lộc tháp tùng thăm quốc vương Xiêm La (Thái Lan). Vài tháng sau chuyến đi này, Lộc ngã bệnh nặng, biết không sống được nên Bá Lộc căn dặn con cháu chôn ở tư thế đứng. Paul Doumer có đến viếng thăm và khi Lộc mất, P. Doumer đã ra lệnh làm lễ an táng thật lớn.

Ông mất ngày 26 tháng 10 năm 1899, thọ 61 tuổi.

[sửa] Đóng góp cho Pháp

Trích Việt Nam sử lược:

Trong khi thống-đốc Paul Bert xếp-đặt mọi việc ở Bắc-Kỳ, thì ở Trung-kỳ quân Cần-vương ở các tỉnh vẫn đánh phá. Quân Pháp phải tìm cách mà đánh-dẹp cho yên. Ơ mạn Bình-Thuận, Phú-Yên thì thiếu-tá De Lorme và viên Công-sứ Aymonier cùng với Trần Bá Lộc đem lính tây và lính ở Nam-Kỳ ra đánh-dẹp. Trần Bá Lộc dùng cách dữ-dội, chém giết rất nhiều, bởi vậy đất Bình-thuận không bao lâu mà yên; rồi đem quân ra dẹp đảng Văn-Thân ở Phú-Yên và Bình-Định, bắt được cử-nhân Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận đem chém. Từ tháng 6 năm Bính-Tuất (1886) đến tháng 6 năm Đinh-Hợi (1887), thì những tỉnh ở phía nam đất Kinh-kỳ đã dẹp yên[3].

Lược kể thêm vài tư liệu:

[sửa] Bắt Thủ Khoa Huân

Trần Bá Lộc cho quân lính về phủ Bình Dương (Gia Định) bắt cha mẹ, vợ con của đốc binh Hương, là một thuộc hạ thân tín của Thủ khoa Huân. Hương vì gia quyến nên tự trói mình ra hàng, rồi Hương bị Bá Lộc buộc phải dẫn quân đi bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo (Tiền Giang) vào ngày 15 tháng 5 năm 1875, lúc ông này đang dự tính quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện. Trên đường, Hữu Huân định nhảy xuống một ao sâu tự tìm cái chết, nhưng một người tên Cang kịp cản ngăn. Sau Pháp đem giam ông tại Mỹ Tho, rồi dùng mọi mưu chước chiêu hàng nhưng không thành.

Ngày 19 tháng 5 năm 1875, thực dân Pháp cho tàu chở ông theo dòng Bảo Định về quê Mỹ Tịnh An tại Bến Tranh để chém lúc 12 giờ trưa. Năm ấy Nguyễn Hữu Huân 45 tuổi [4].

[sửa] Đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Mai Xuân Thưởng

Năm 1885, em ruột Bá Lộc tên là Trần Bá Hựu, đang làm quan cai trị tại Long Thành và bạn của Bá Hựu cũng là Đốc phủ Trần Tử CaHốc Môn. Cả hai đều bị nghĩa quân sát hại, khiến Bá Lộc càng thêm căm giận. Vào ngày 5 tháng 2 năm 1886, Bá Lộc nhận lệnh đem quân lính đến Phú Yên và Bá lộc nhanh chóng bắt được nhiều nồng cốt của nghĩa quân như Lê Thành Phương, Nguyễn Tấn Hanh, Lê Khanh, Bùi Điền, Nguyễn Tự Tân, Lê Trung Đình...; cuối cùng là lãnh tụ Thưởng đều sa vào tay Bá Lộc và tất cả bị xử chém [5].

[sửa] Đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Tứ Kiệt

Căn cứ Đồng Tháp Mười bị vỡ và chủ tướng Võ Duy Dương không còn nữa, nhưng nghĩa quân vẫn giữ vững ý chí chiến đấu. Họ tản về các làng quê sinh sống và đợi thời cơ mới. Đó là trường hợp của các ông Nguyễn Thanh Long, Trần Công Thận, Trương Văn Rộng, Ngô Tấn Đước mà nhân dân gọi là "Tứ Kiệt".

Trước những hoạt động ngày càng mạnh mẽ của nghĩa quân như bí mật đột nhập vào trong thành Mỹ Tho đốt cháy kho lương thực vào đêm ngày 1 tháng 5 năm 1868, như trận đốt cháy đồn Cai Lậy vào sáng ngày 24 tháng 12 năm 1870 thu được nhiều chiến lợi phẩm...; khiến cho Pháp hết sức lo ngại. Vì thế, Pháp đã ra lệnh cho Lộc dẫn 1.200 quân để tìm bắt "Tứ Kiệt" và tiêu diệt nghĩa quân. Cuối cùng, "Tứ Kiệt" cũng không thoát khỏi tay Bá Lộc. Sau khi dụ hàng không thành, ngày 25 tháng Chạp năm Canh Ngọ (14 tháng 2 năm 1871), “Bốn Ông” bị xử chém tại chợ Cai Lậy.

[sửa] Đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Võ Thiệp

Từ ngày 10 tháng năm 1887, lực lượng Pháp và Bá Lộc từ Phú Yên ra đàn áp phong trào Cần vươngBình Định. Nhằm “chia lửa”, Võ Thiệp cùng vợ là Nguyễn Thị Vân Đương chỉ huy nghĩa quân Phú Yên yểm trợ. Nhưng đến làng Quang Hiên, xã Nhơn Thành, huyện Tuy Phước thì lọt vào ổ phục kích. Đa số nghĩa quân đều hy sinh, Vân Đương bị thương rơi vào tay đối phương. Võ Thiệp chạy thoát nhưng sau đó ông trở lại nhà lao Tuy Phước tìm cách cứu vợ và Võ Trứ đang bị giam giữ thì bị địch phát hiện nên cả hai vợ chồng đều hy sinh tại chân núi Phụng Sơn, huyện Tuy Phước [6]

[sửa] Những đóng góp khác

Vào năm 1867, nhờ “bắt sống được Tổng binh Bút khi ông này đánh vào toán quân Pháp trú đóng tại Sa Đéc (đình làng Tân Qui Đông), Bá Lộc được thăng làm phủ.

Năm 1868, Nguyễn Trung Trực chạy ra đảo Phú Quốc. Bá Lộc cho bắt giết thân nhân những người trong cuộc, khiến ông Trực phải ra hàng để cứu sống những người bị bắt làm con tin. Bá Lộc còn lãnh trách nhiệm điều tra rồi trình cho Pháp danh sách 170 người liên can với ông Trực.

Từ 1868 tới 1871, Bá Lộc góp phần giải vây đồn Cái Bè, bấy giờ bị bốn ông Long, Thận, Rộng, Đước tấn công (bốn ông này sau đều bị Lộc giết). Rồi đụng độ với nghĩa quân ở Láng Thé (Trà Vinh), gồm đa số là người Miên, khi tham biện Vĩnh Long là Salicetti bị giết khi đến Vũng Liêm để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Cuộc chiến khá sôi nổi, nhiều phen tưởng chừng Bá Lộc thua, nhưng sau rốt nhờ khí giới tốt nên thắng.

Năm 1868, Bá Lộc đã đi “bắt quân làm ngụy ở phía Trà Đư” đem về Châu Đốc nộp cho quan tham biện. Đây là những người thuộc nhóm Bửu Sơn Kỳ HươngBảy Núi[7]

Năm 1871, Trần Bá Lộc thử hành quân vào mật khu Bảy Thưa - Láng Linh của Trần Văn Thành, nhưng chẳng thâu được kết quả do sình lầy, bốn phía lau sậy mù mịt, thỉnh thoảng bị phục kích... [8]

[sửa] Nhận xét

Bá Lộc chết, sĩ phu vùng Cái Bè có câu liễn đối viếng như sau:

Tả quân quốc ư lưỡng kì, Nam tảo Bắc trừ, thứ nhật niễu hùng nan dụng võ;
Bão lê dân ư Ngũ Hiệp, tư qui sinh kí, kiêm triêu chấp phất hận vô văn.[9]

Trích Sài Gòn năm xưa:

Ông (ám chỉ Trần Bá Lộc), người khô ráo dỏng dảy, môi mỏng, cặp mắt có sát khí. Ông ta bắt được địch thủ, nhứt quyết không cầm tù, chỉ chặt đầu y như quân lịnh : chém người như chém chuối, chém không chừa con đỏ. Chính Toàn quyền Paul Doumer còn phải hạ một câu xác đáng: "Nếu muốn (nhơn nghĩa) ... thì thà đừng sai hắn (ám chỉ Lộc) cầm binh!” Sau việc bắt giữ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân năm 1875, ngày 26 tháng 5 năm 1866, Phó Đô đốc Hải quân Pháp De La Grandirere khen ngợi Lộc: ”Hãy tiếp tục phụng sự nước Pháp, đất nước mà ông là một trong những đứa con đáng tự hào ...”[10]

Nhà văn Sơn Nam viết:

Đây là tay sai đắc lực số một, vượt hẳn hai nhân vật trên: háo thắng, ham địa vị, ưa tàn sát theo lối phong kiến… Đại khái, họ (ám chỉ Pháp) biết Lộc tàn ác nhưng họ xài trong thủ đoạn dùng người và luật lệ bổn xứ để đàn áp người bổn xứ: “Một viên chức quá kỹ lưỡng, quá tận tâm trong vài trường hợp”, “không cẩn thận trong việc dùng phương tiện, nhưng lại đạt mục đích chắc chắn”. Lộc sanh tật uống rượu, tánh tình thay đổi rõ rệt. Ba năm trước khi chết, Lộc được viên tham biện Mỹ Tho phê như sau: “Người ta có thể phàn nàn lão già này về những hành động ác độc lúc trước đã trở thành chuyện huyễn hoặc, khó tin, nhưng tôi cho là trong hàng ngũ viên chức bổn xứ hiện nay khó tìm được một người biết kính bề trên, dám tận tụy với chính nghĩa của nước Pháp bằng ông ta”.[11]

Việt sử tân biên ghi:

Miền Nam nhớ Trần Bá Lộc trong các vụ đàn áp phong trào Dân chúng tự vệ, Bình Tây sát tả; miền Trung cũng nhớ y trong vụ cộng tác với Nguyễn Thân đánh dẹp các nhà ái quốc mà đứng hàng đầu là cử nhân Mai Xuân Thưởng…[12]

Về sau, người dân Cái Bè đốt cháy dinh thự nguy nga của Trần Bá Lộc. Một nhà thơ tên Dị Nhơn Thị có thơ rằng:

Dám đem xương máu của đồng bào
Mà cất cái dinh thật lớn lao
Khói tỏa cung A, rằng chuyện cũ
Lửa thiêu dinh Bá, khác đâu nào!
“Phì da” quân đối “sơn hà cổ”
“Báo oán“ dân đồng “nhật nguyệt cao"
Nước sạch Cái Bè trong leo lẻo,
Làm gương cho sách để về sau.[13]

Tuy vậy, hệ thống kênh đào do Trần Bá Lộc chỉ huy đã đem lại lợi ích to lớn cho vùng đất Đồng Tháp Mười. Kênh chính dùng cho việc giao thương nông sản hàng hóa và tăng cường khả năng tiêu nước vào mùa lũ. Mười con kênh nhánh dẫn nước vào kinh chính và xả phèn. Thành công của Trần Bá Lộc được đánh giá là "giúp cho người Pháp thay đổi quan điểm đối với Đồng Tháp Mười"[14].

[sửa] Chú thích

  1. ^ Xem nguồn từ Báo Bình Định
  2. ^ Xem nguồn báo Tiền Giang
  3. ^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Tân Việt , Sài Gòn, 1986, chương XV, tr. 560.
  4. ^ Sách Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế ghi: "Ông Huân cắn lưỡi tự tử ngay tại pháp trường trước khi Pháp hành quyết!"
  5. ^ Căn cứ biểu do Tirant thiết lập ngày 11 tháng 6 năm 1887 gửi Thống đốc Nam Kỳ (tư liệu số Aix11.929), viết: “Có ba đợt hành quyết: ngày 1 tháng 6 năm 1887 có 5 người, trong đó có Lê Khanh; ngày 7 tháng 6 có 12 người, trong đó có Mai Xuân Thưởng và Bùi Điền; ngày 12 tháng 6 có 9 người và ngày 13 tháng 6 có 1 người. Tổng cộng có 27 người bị hành quyết" - Theo TS. Đinh Bá Hòa [1]
  6. ^ Theo ThS. Đào Nhật Kim [2]
  7. ^ Theo Sơn Nam. [3]
  8. ^ Ngày 19 tháng 3 năm 1873, Trần Bá Tường (em ruột Trần Bá Lộc) dẫn quân Pháp vào mật khu lần nữa mới đánh dẹp được cuộc khởi nghĩa. Nguyễn Văn Hầu, trong sách Nửa tháng trong miền Thất Sơn, ghi Trần Bá Lộc tham gia lần này là nhầm lẫn.
  9. ^ Tạm dịch: Giúp việc cho Pháp và triều đình Huế; đánh phá trong Nam ngoài Bắc, ngày ấy niễu hùng (?) này hết đường dùng võ; Cai trị dân Ngũ Hiệp (5 thôn ở Cái Bè), sống ở chết về, muốn nhắc đến công nghiệp mà không có cái văn nào tả xiết!
  10. ^ Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, NXB TP. HCM, 1991, tr. 290.
  11. ^ [4]
  12. ^ Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, quyển V, tập thượng, Sài Gòn, 1962, tr. 215.
  13. ^ Theo tư liệu của Lê Nguyễn trong sách Xã hội VN thời Pháp thuộc,NXB VHTT, 2005. Trong sách này có ảnh của Trần Bá Lộc.
  14. ^ Xem nguồn báo Tiền Giang. Lúc đầu, chính quyền Pháp ở Nam kỳ rất dè dặt trước đề nghị của Trần Bá Lộc, bởi vì theo họ Đồng Tháp Mười là "một cánh đồng không sinh lợi". Thế nhưng sau đó, giới cầm quyền Nam kỳ cũng chuẩn y kế hoạch của Trần Bá Lộc với hai điều kiện là kinh phí tự túc và chỉ đào thử nghiệm hai đoạn kinh dài 8 km, rộng 3 m. Sau khi đào thử nghiệm thành công, Pháp mới cho giới cầm quyền Nam kỳ vay vốn để đào kênh.[5]

[sửa] Liên kết ngoài


logotypy Hosting www Samochody Teledysk szkolenia dla hotelarzy apteka internetowa restauracja rzeszów Antiox Opisy 1% podatku komputery pozycjonowanie stron Monitory, monitor LCD dom kraków zadania z chemii kick koparki Bułgaria wczasy Karaoke tani kredyt hipoteczny COOLsurf