Ngô Lợi

Chùa Tổ của đạo Hiếu Nghĩa, tức chùa Tam Bửu.
Chùa Tổ của đạo Hiếu Nghĩa, tức chùa Tam Bửu.

Ngô Lợi (1831[1] -1890), tên thật là Ngô Viện (tên húy, còn Ngô Lợi là tên tự). Ngoài ra, ông còn có tên là Ngô Tự Lợi hoặc được người trong đạo gọi tôn là Đức Bổn sư hay Ông Năm Thiếp, giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa), được thành lập vào năm 1867.[2] tại Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, Việt Nam.

Mục lục

[sửa] Thân thế

Ngô Lợi người Mỏ Cày, Bến Tre.[3] Cha tên Ngô Nhàn (? - 1937), làm nghề thợ mộc, mẹ tên Phạm Thị Xuyến, người Bình An, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang).

Tương truyền từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, Ngô Lợi cũng không có biểu hiện gì khác lạ. Cho đến năm 1851, lúc 20 tuổi, ông viết Bà La Ni Kinh[4] dài 223 chữ Hán, mà sau này trở thành quyển kinh quan trọng của đạo Hiếu Nghĩa.

Năm 37 tuổi, vào ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão (1867), bỗng nhiên ông bất tỉnh. Sau 7 ngày 7 đêm, ông hồi tỉnh lại, trở thành người giải thoát tẩy trần tâm, giáo nhơn tùng thiện đạo.(rũ sạch lòng trần, dạy người theo đạo lành.)[5]

Bởi đi "thiếp" vào ngày trên và thỉnh thoảng ông lại có những cuộc đi thiếp như thế, nên người đời còn gọi ông là Năm Thiếp. Mỗi lần đi thiếp xong, ông thường nói những việc quá khứ và đoán định việc tương lai, nên được nhiều người tin nghe.[6]

[sửa] Sự nghiệp

Sau khi liễu đạo, Ngô Lợi đi nhiều nơi vừa trị bệnh (nhất là trận dịch hoành hành dữ dội vào năm 1876), vừa thu nhận và dạy tín đồ thuyết học Phật tu nhân, báo đáp tứ ân, hành xử theo thập nhị giáo điều[7]. Năm 1876, ông cho một tín đồ tên Trần Tịnh đi khảo sát vùng Núi Tượng. Năm 1870, ông đưa một số đệ tử vào theo để khai hoang, lập chùa miếu và mở thôn ấp mới.

[sửa] Khởi nghĩa ở Mỹ Tho

Những năm 1877 - 1879, ông tổ chức hai cuộc làm chay để che mắt Pháp, lần đầu vào ngày 16 tháng 2 năm 1878 qui tựu hơn 200 người, rao giảng thuyết Hội Long Hoa và tuyên bố "đời Minh Hoàng được thành lập, ai không theo thì bị thú dữ, cọp beo trong rừng ăn thịt"[8].

Lần thứ nhì vào ngày 30 tháng 4 nănm 1878, ông phong cùng Võ Văn Khả làm chánh tướng, Lê Văn Ong làm phó tướng để nổi dậy kháng Pháp ở Cai Lậy (Mỹ Tho) vào ngày 2 tháng 5 năm 1878 nhưng đã bị dẹp tan nhanh chóng. Hai ông Ong và Khả bị xử chém tại Thuộc Nhiêu năm 1879. Còn Ngô Lợi cùng nhiều nghĩa quân trốn thoát về làng An Ðịnh.[9], căn cứ của đạo Hiếu Nghĩa, do ông cùng tín đồ khai hoang, lập ấp thuở trước.[10]

[sửa] Kháng Pháp nơi núi Tượng

Màn lưới do thám của Pháp liền được lệnh truy lùng Ngô Lợi ráo riết, nhưng rốt cuộc không thu được kết quả nào, bởi ông được tin đồ và đồng bào mến mộ che giấu. Ngay cả thuộc hạ đắc lực của đốc phủ Trần Bá Lộc là Hai Phép lãnh trách nhiệm theo dõi ông, cũng bị ông cảm hóa rồi theo phe kháng Pháp luôn. Đốc phủ Đỗ Hữu Phương cho tên Bửu, người Minh hương, mua ba ngàn xâu chuỗi bồ đề từ Chợ Lớn xuống Núi Tượng, cúng cho bổn đạo vẫn vẫn không dò hỏi được tin tức gì.

Một góc phố Ba Chúc tức thôn An Định xưa. Phía cuối đường là Núi Tượng
Một góc phố Ba Chúc tức thôn An Định xưa. Phía cuối đường là Núi Tượng

Tức tối, Pháp nhiều lần tổ chức ruồng bố. Chỉ tính trong 12 năm (1876 - 1888), Pháp đã đến đốt phá, bắt bớ, tra tấn, tù dày những tín đồ ở làng An Ðịnh cả thảy bảy lần, tín đồ Hiếu Nghĩa gọi là “đạo nạn”, đơn cử như vào năm 1885, Ngô Lợi cùng với tín đồ đạo Hiếu Nghĩa kết hợp với nghĩa quân của Hoàng Thân Sivôtha (Campuchia) nổi dậy, đánh chiếm hai bờ kênh Vĩnh tế và làm chủ Tịnh Biên. Nhưng ngay đó, quân Pháp do đại úy Ferussac đem quân chiếm lại và còn tấn công vào An Định, khiến Ngô Lợi phải cùng với nhiều tín đồ phải chạy sang Vườn Dầu, thuộc Campuchia để lánh nạn. Ngày 2 tháng 6 năm 1886, quân Pháp mở cuộc hành quân sang Campuchia, đánh vào căn cứ Vườn Dầu nhưng thất bại. Mặc dù cản ngăn được được đối phương, nhưng khi Ngô Lợi trở về núi Tượng, nhà cửa, chùa chiền ở An Định chỉ còn là những đống tro tàn.

Nhưng bi thảm nhất là vào năm 1887, quân Pháp do thiếu tá Peiqnaux ở Châu Đốc chỉ huy, cùng hai cộng sự là Trần Bá Lộc và cai tổng Trương Văn Keo kéo quân vào An Định. Bị kháng cự ở núi Trà Sư, nên khi Pháp tràn được vào làng, họ đã đốt sạch nhà cửa, chùa chiền, bắt nhiều người tra tấn để tìm Ngô Lợi.

Kết cuộc, Pháp xử bắn 8 người, đày ra Côn Đảo 13 người, cưỡng bức 407 gia đình gồm gần hai ngàn người già trẻ xuống tàu về quê quán và giải tán làng An Định (sáp nhập vào làng Vĩnh Lạc), [11]

[sửa] Qua đời

Ngày 13 tháng 10 âm lịch năm Canh Dần 1890, Ngô lợi mất vì bệnh tại thôn An Hòa, gần Núi Tượng, lúc 59 tuổi.[12]

Sau khi ông mất, phong trào kháng Pháp tan rã, chỉ còn lại đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Ngoài bản kinh Bà La Ni Kinh, từ năm 1879 đến năm 1884, Ngô Lợi còn truyền dạy cho tín đồ nhiều bài cung văn sớ điệp, nhiều nghi tiết cúng lễ. Các vị đại đệ tử của ông đã ghi chép lại thành tập sách Ngọc Lịch Đồ Thơ Tập Chú.

[sửa] Nhận xét

Tháng 10 năm 1885, chủ tỉnh Châu Đốc báo cáo:

Toàn là dân bất hảo, chống đối sự khai hóa của người Pháp. Họ ở tứ xứ gom về và tất cả đều theo đạo Phật (ý nói Đạo Hiếu Nghĩa), nhưng là những phật tử có nhiệt tâm đến mức cuồng tín. Họ ra vẻ chí thú làm ăn, nhưng gặp cơ hội là họ khởi loạn nữa...

Sau cuộc hành quân tìm diệt Ngô Lợi ở căn cứ Vườn Dầu vào năm 1886 nhưng thất bại, người Pháp viết:

Uy tín tinh thần của ông (Ngô Lợi) còn mạnh. Ông là giáo chủ tôn giáo mới...[13]

Đinh Văn Hạnh nhận xét:

Có người nhận xét làng An Định là căn cứ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và của phong trào Cần Vương toàn cõi Nam Kỳ. Thực ra, phong trào Cần vương mãi đến tháng 7 năm 1885 mới được phát động. Còn trước đó gần 10 năm, An Định đã là nơi hội tụ của những nghĩa quân thất bại trong những cuộc khởi nghĩa lớn... Họ về đây cùng với Năm Thiếp chờ cơ hội...[14]

Địa chí An Giang đánh giá:

Ngô Lợi là một sĩ phu yêu nước của phong trào Cần Vương. Bị thực dân Pháp truy nã, ông từ Mỹ Tho về Ba Chúc dựng chùa tu hành để che mắt đối phương.
Do vậy, làng An Định cùng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là nơi hội tụ của những người nuôi chí lớn, mong có ngày giải phóng quê hương khỏi tay quân xâm lược và đã gây cho Pháp nhiều khó khăn vất vả. Trong kháng chiến chống Mỹ, đã có nhiều đồng bào theo đạo này tham gia cách mạng...[15]

[sửa] Xem thêm

[sửa] Chú thích

  1. ^ Theo web Bửu Sơn Kỳ Hương, Ngô Lợi sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm Tân Mão (1831)[1]. Nguyễn Văn Hầu trong Nửa tháng trong miền Thất Sơn lại cho rằng Ngô Lợi còn có tên là Hữu, sinh năm Canh Dần (1829) tại Dội, gần biên thùy Châu Đốc. Nhưng chi tiết này, không được nhiều người quan tâm đồng thuận.
  2. ^ Theo Địa chí An Giang, tập 2, UBND ấn hành, năm 2007, tr.391.)
  3. ^ Ngô Lợi tự nhận mình là người quê ở Mỏ Cày ( Bến Tre). Nhưng theo nhà văn Sơn Nam, quê ông ở Trà Tân (Cai Lậy), cũng có tài liệu chứng tỏ ông quê tại Tà Lọt (Cái Bè). Thực tế, nếu viết chữ Nôm thì hai địa danh Trà Tân và Trà Lọt dễ lầm lẫn. Còn Mỏ Cày thì bên kia bờ sông Tiền Giang, không xa hai địa danh vừa kể.[2]
  4. ^ Nội dung xưng tán Đức Quán Thế Âm Bồ tát, để khuyên người đời tu niệm.
  5. ^ Trích kinh Hiếu Nghĩa.
  6. ^ Theo Web Bửu Sơn Kỳ Hương [3]
  7. ^ Xem đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
  8. ^ Theo thuyết Hội Long Hoa thì thời kỳ Hạ ngươn sắp mãn để bước sang thời kỳ Thượng ngươn, tức thời kỳ Đức Phật Di Lặc hạ sanh để cứu giúp chúng sinh. (Sơn Nam, Cá tính miền Nam, NXB Trẻ, 1997 tr.31). Còn Đinh Văn Hạnh thì giải thích: Đến một ngày nào đó, núi Cấm sẽ nổ lớn rồi nứt ra. Khi đó trong núi sẽ xuất hiện cung son, điện ngọc với một đấng Minh vương sẽ lập lại đời thượng ngươn vô cùng an lạc. Chỉ có những người theo đạo Hiếu Nghĩa mới được cứu, được sống sót...Như vậy, có thể nói sau khi các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân... thất bại, bấy giờ ngọn cờ tôn giáo chính là một sự chọn lựa, là một thứ vũ khí tinh thần để người dân mất nước đối mặt với kẻ xâm lăng hùng mạnh hơn mình...(Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với phong trào kháng Pháp, Nam Bộ xưa và nay, NXB TP. HCM, 2005, tr.184)
  9. ^ Trong công văn đề ngày 29 tháng 5 năm 1878, Pháp treo giá 1.000 quan tiền thưởng cho ai bắt được Ngô lợi, kèm theo lời mô tả ông Lợi vóc người cao ráo, ốm yếu, có 3 chòm râu dài
  10. ^ Trước sau Ngô Lợi cùng tín đồ đã khai hoang, mở được bốn thôn(Pháp gọi là làng): An Định, An Hòa, An Thành, An Lập, nay tất cả đều thuộc thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
  11. ^ Theo Địa chí An Giang, tập I, UBND tỉnh ấn hành, 2003, tr. 247. Chùa Tam Bảo và chùa Phi Lai của làng An Định xưa, nay thuộc thị trấn Ba Chúc; vào năm 1978, còn chứng kiến một cuộc đẫm máu nữa, đó là cuộc thảm sát 3.157 người dân Việt bởi quân đội Pôn Pốt (Camphuchia) đã đến càn quét chốn quê này.
  12. ^ Tương truyền, trước đây vì sợ Pháp làm hại, đệ tử thân tín cõng xác Ngô Lợi, mà tín đồ gọi là kim thân, giấu trong hang (Vồ Cấm, Núi Tượng), đến khi bình yên mới kín đáo đưa về giấu nơi chùa Tổ (chùa Tam Bửu). Đến nay không biết kim thân có bị cháy cùng chùa vào năm 1978, khi quân đội Pôn pốt đến đốt phá, hay còn khuất ở nơi đâu. Ngôi mộ Tổ (Ngô Lợi) nằm bên sân chùa Tam Bửu và ở thôn An Thành là mộ giả.
  13. ^ Theo Rapports mensuels de Services (1887 - 1888).
  14. ^ Cũng trong bài viết của Đinh Văn Hạnh, có một chi tiết rất đáng lưu ý là vào ngày 13 tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương. Phó tổng binh thành Hà Nội tên Lê Công Chánh đã xin về Bình Định tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng. Năm 1886, ông Chánh đến Bảy Núi gặp Ngô Lợi. Sau đó, Ngô Lợi cử người đi theo Chánh nhận bằng cấp và ấn triện, nhưng tất cả đều bị Pháp bắt, nên việc liên kết các phong trào Cần Vương không thành. (Tác phẩm đã dẫn, tr.185.)
  15. ^ Địa chí An Giang tập 2, UBND tỉnh An Giang ấn hành, tr. 300 và 391.

[sửa] Liên kết ngoài


Các ông đạo ở Nam Bộ, Việt Nam
Đoàn Minh Huyên • Ngô Lợi • Phật Trùm • Huỳnh Phú Sổ • Đạo Tưởng

Długopisy reklamowe noclegi mazury kredyt przez internet Kodeki Nieruchomości Apteka Wynajem samochodów Warszawa Ubezpieczenia zdrowotne Przepisy kulinarne ebarok kredyt mieszkaniowy Dachy makroekonomii Agroturystyka Polska zakłady bukmacherskie kick koparki Bułgaria wczasy Karaoke expekt COOLsurf